Các trường hợp dễ nhầm lẫn khi dùng mạo từ The

Trong nhiều trường hợp, khó có thể xác định được có nên dùng mạo từ the hay không. Chẳng hạn như chúng ta không dùng mạo từ trước danh từ đếm được số nhiều và danh từ không đếm được để nói về sự việc một cách chung chung, nhưng lại có dùng the khi nói về những sự việc mà người nghe/đọc đã biết đến. Đôi khi cả 2 trường hợp trên xảy ra đồng thời trong cùng 1 câu và khó có thể xác định được chính xác có dùng the hay không. Những sự khác biệt về mặt ngữ pháp trong các trường hợp này thường không rõ ràng, cùng 1 ý có thể được diễn đạt theo cả 2 cách. Hãy cùng xét cụ thể các trường hợp sau:

1. Khi nói về nhóm người/vật
Khi chúng ta nói chung chung về các thành viên của 1 nhóm, chúng ta thường không sử dụng mạo từ. Nhưng nếu chúng ta nói về nhóm đó như 1 thể thống nhất - 1 đơn vị đã được biết tới rộng rãi - thì thường dùng the.
Ví dụ:
- Nurses mostly work very hard. (Y tá hầu hết đều làm việc rất vất vả.)
The nurses have never gone strike. (Các y tá không bao giờ đình công cả.)

- Farmers often vote Conservative. (Những người nông dân thường bỏ phiếu cho Đảng Bảo Thủ.)
 What has this goverment done for the famers? (Chính phủ ở đây đã làm được gì cho người nông dân?)
 
- Stars vary greatly in size. (Những ngôi sao rất đa dạng về kích cỡ.)
The stars are really bright tonight. (Đêm nay sao thật sáng.)

- It's difficult for railways to make a profit. (Ngành đường sắt rất khó có thể tạo ra được lợi nhuận.)
The railways are getting more and more unreliable. ( Ngành đường sắt ngày càng không đáng tin.)

Quy tắc trên thường gặp khi nói về quốc tịch.
Ví dụ:
New Zealanders don't like to be mistaken for Autralians. (Người New Zealand không thích bị nhầm với người Autralia.)
The Autralians suffered heavy losses in the First World War. (Người Autralia đã phải chịu những tổn thất nặng nề trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất.)

2. Khi nói về các nhóm có số lượng thành viên giới hạn
Chúng ta thường dùng the khi nói về các nhóm có số lượng thành viên xác định, giới hạn.
Ví dụ:
- French painters (những họa sĩ người Pháp) => nhóm gồm lượng lớn thành viên, không xác định
The Impressionists (những người theo trường phái ấn tượng) => một phong trào nghệ thuật cụ thể, chúng ta biết ít nhiều về những người thuộc nhóm này.

- 19th-century poets (những nhà thơ thuộc thế kỷ 19) => nhóm gồm lượng lớn thành viên, không xác định
The Romantic poets (những nhà thơ thuộc trường phái lãng mạn) => gồm các nhà thơ cụ thể Shelly, Keats, Byron, Wordsworth và 1 vài nhà thơ khác.

- British comprehensive schools (các trường phổ thông hỗn hợp tại Anh) 
The British "Public Schools" (Nhóm các trường công lập ở Anh) => nhóm gồm 1 số lượng ít những trường danh giá đắt đỏ nhất ở Anh.

Các chuyên gia thường dùng the cho các nhóm ngành mà họ nghiên cứu.
Ví dụ:
Metals are mostly shiny. (Hầu hết kim loại đều phát sáng.)
Next term we're going to study the metals in detail. (Học kỳ tới chúng ta sẽ học chi tiết về kim loại.)

3. Khi nói về các nhóm từ bán tổng quát
Một vài nhóm từ có nghĩa bán tổng quát, chẳng hạn như khi nói về eighteen-century history (lịch sử của thế kỷ 18), sixties music (âm nhạc những năm 60) hay poverty in Britain (sự nghèo đói ở Anh), chúng ta không nói về toàn bộ lịch sử, âm nhạc hay sự nghèo khổ nhưng những điều này vẫn mang nghĩa chung chung (khác với những nghĩa cụ thể như: lịch sử học trên lớp, hay âm nhạc cụ thể nào đó mà tôi vừa nghe hay sự nghèo khó mà tôi đã trải qua).
Trong những nhóm từ bán tổng quát này chúng ta thường không dùng mạo từ. Tuy nhiên thường dùng the trước cụm danh từ xác định, nhất là khi có of.
Ví dụ:
- 1960s music (âm nhạc những năm 60)
the music of the 1960s (âm nhạc những năm 60)

- African butterflies (những con bướm châu Phi)
the butterflies of Africa (những con bướm châu Phi)

4. Khi nói về môi trường, vật chất
Ta thường dùng the khi nói về môi trường vật chất, thế giới, khí hậu xung quanh chúng ta một cách chung chung. Dùng mạo từ the thể hiện mọi người đều đã quen thuộc với những gì được đề cập đến chẳng hạn như the town (thành thị), the country (nông thôn), the mountains (núi), the sea (biển), the seaside (vùng ven biển), the wind (gió), the rain (mưa), the weather (thời tiết), the sunshine (ánh nắng mặt trời), the night (ban đêm).
Ví dụ:
My wife likes the seaside, but I prefer the mountains. (Vợ tôi thích đến những vùng ven biển, nhưng tôi thì thích núi hơn.)
British people talk about the weather a lot. (Người Anh nói rất nhiều về thời tiết.)
I love listening to the wind. (Tớ thích nghe âm thanh của gió.)

Nhưng lưu ý không dùng mạo từ với các từ như nature, society, space khi đề cập đến chúng một cách chung chung.

5. Khi nói về các sự việc trong đời sống hàng ngày
Chúng ta thường dùng the với danh từ đếm được số ít khi nói về những thứ là một phần của cuộc sống hàng ngày, như the bus ( xe buýt), the hairdresser (thợ cắt tóc). Trong trường hợp này the bus không chỉ 1 chiếc xe bus cụ thể nào mà bạn biết, mà chỉ xe bus nói chung mà chúng ta đều biết tới.
Ví dụ:
I have some of my best ideas when I'm on the bus. (Tớ đã nảy ra những ý tưởng tuyệt vời nhất khi đang ở trên xe bus.)
Most of my friends go to the hairdresser two or three times a month. (Hầu hết bạn bè tôi thường đi đến thợ cắt tóc 2 hay 3 lần một tháng.)
Do you sing in the bath? (Cậu có hát khi tắm không?)
I've stopped reading the newspaper because it's too depressing. (Tớ vừa ngừng không đọc báo nữa vì việc đó quá là chán.)

6. Khi nói về những bộ phận, thành phần của người/vật
Đôi khi chúng ta dùng the trước tên các bộ phận, thành phần không cụ thể của người/vật nào đó, dù người/vật đó còn có nhiều bộ phận tương tự nhưng không cần thiết phải chỉ rõ đó là bộ phận/thành phần nào.
Ví dụ:
Living by the side of the road, we saw the wheel of a car. (Sống ngay bên ven đường, chúng tôi đã nhìn thấy bánh của 1 chiếc xe.) => có 2 ven đường nhưng người nói không cần phải chỉ rõ cụ thể là ven đường bên nào, ô tô có nhiều bánh nhưng người nói không cần phải chỉ rõ là bánh nào.
KHÔNG DÙNG: We saw a wheel of a car.

John Perkins is the son of a rich banker. (John Perkins là con trai của một nhân viên nhân hàng giàu có.) => người đó có thể có nhiều con trai, nhưng không cần chỉ rõ.

She kicked him on the knee. (Cô ấy sút vào đầu gối anh ta.) => Anh ta có 2 đầu gối nhưng không cần chỉ rõ là bên nào.